Tìm kiếm
Close this search box.
Tìm kiếm
Close this search box.

Các loại ký sinh trùng mà cần nên biết

Ký sinh trùng tiếp tục là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe con người khi chúng ảnh hưởng đến vật chủ theo nhiều cách khác nhau, bao gồm cả việc điều trị kịp thời, dẫn đến hậu quả về sức khỏe bao gồm cả tử vong.

Các loại ký sinh trùng

Khoảng 70% ký sinh trùng không nhìn thấy được bằng mắt người (chẳng hạn như ký sinh trùng sốt rét), nhưng một số ký sinh trùng dài hơn cơ thể người, và một số sán dây thường dài 2-4 mét, đôi khi 8-10 mét chiều dài.

Ký sinh trùng không phải là bệnh lý, nhưng chúng có thể truyền bệnh. Các loại ký sinh trùng khác nhau có thể gây ra các bệnh khác nhau. Do đó, ký sinh trùng được chia thành ba loại chính: động vật nguyên sinh (động vật nguyên sinh), giun sán và sinh vật ngoại sinh (ngoại ký sinh trùng).

ký sinh trùng người

Có nhiều loại ký sinh trùng lây nhiễm cho con người và gây ra nhiều bệnh. Có ba nhóm ký sinh trùng chính ở người: động vật nguyên sinh, giun sán và ngoại ký sinh trùng.

bệnh do động vật nguyên sinh

  1. Amip (cùng chân giả)

Amip có ở vùng nhiệt đới, nơi đông dân cư, điều kiện vệ sinh kém. Có nhiều loại amip ký sinh ở người và có thể chia thành 3 loại cơ bản. Các loài gây bệnh và tự do nhưng gây bệnh. Entamoeba histolytica là loại amip duy nhất ký sinh và gây bệnh cho người. Khi loại này gây bệnh, nó sẽ ăn các tế bào hồng cầu, gây loét (thường ở ruột thừa và đại tràng sigma), bong ra khỏi thành ruột và trộn phân với máu và chất nhầy.

  1. Bệnh lậu

Babesia là một bệnh nhiễm trùng do ký sinh trùng Babesia gây ra, lây truyền sang người qua vết cắn của ve. Bệnh ảnh hưởng đến các tế bào hồng cầu với các triệu chứng như sốt, tán huyết và tiểu máu. 

  1. Bệnh Balandidiosis

Barantidiosis là một bệnh nhiễm trùng gây ra bởi Barantidium coli, một loại ký sinh trùng đơn bào thường lây nhiễm cho những con lợn bị nhiễm bệnh tình cờ. Nó cũng là loài sâu bướm duy nhất được tìm thấy trong phân người. Nó có thể lây lan khi tiếp xúc trực tiếp với lợn hoặc uống nước bị ô nhiễm và thường xảy ra ở các vùng nhiệt đới.

  1. Blastocystis (Tăng bạch cầu)

Blastocystis, một loại ký sinh trùng đơn bào, xâm nhập vào người qua đường phân-miệng và gây ra nhiều triệu chứng, bao gồm đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, chán ăn hoặc không có triệu chứng. Bất cứ ai cũng có thể bị bệnh sau khi ăn hoặc uống thức ăn hoặc thức uống bị nhiễm phân người hoặc động vật, kể cả ký sinh trùng.

  1. Cầu trùng

Bệnh cầu trùng do ký sinh trùng cầu trùng gây ra. Ký sinh trùng cầu trùng thường lây truyền qua đường phân-miệng và được tìm thấy trên toàn thế giới. Có nhiều chủng cầu trùng khác nhau gây bệnh cho người, gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, các chủng cầu trùng ở chó, mèo và người thường không lây nhiễm cho nhau.

  1. Giardia (sốt hải ly)

Một loại ký sinh trùng được tìm thấy trong ruột và tá tràng gây tiêu chảy mãn tính. Ngoài vật chủ chính là con người, trùng roi này còn ký sinh trên động vật hoang dã và vật nuôi. Giardia không chịu được tình trạng mất nước ở ruột già và biến thành nang ở khu vực này. Các u nang ở vị trí này là vectơ truyền bệnh có sức đề kháng cao với môi trường bên ngoài.

Căn bệnh này là do ăn phải các nang trong thức ăn và đồ uống. Hầu hết những người bị giardia không có triệu chứng. Tuy nhiên, các triệu chứng phổ biến nhất của bệnh là khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy và phân có thể chứa mủ.

7. Viêm não do amip

Đây là loại amip không ký sinh gây bệnh. Viêm màng não do amip nguyên phát khác với áp xe não do amip thứ phát, mặc dù nó thường sống tự do trong nước và gây bệnh cho vật chủ khi xâm nhập vào cơ thể.

Các loài amip này phát triển mạnh trong đất ẩm, bùn với nhiệt độ từ 25 đến 50 độ C và đóng gói khi gặp môi trường khô, lạnh. Amip “xâm nhập” vào cơ thể khi tắm ở sông hoặc hồ bơi. Amip xâm nhập vào não qua màng nhầy của mũi, màng não của xương bên dưới, v.v.

Sau thời gian ủ bệnh 12-15 ngày gây viêm mũi họng, đau đầu, sau đó là hội chứng màng não, sốt và hôn mê. Các biến chứng dẫn đến tử vong trong vòng vài ngày mắc bệnh.

  1. Sốt rét

Khi một người bị muỗi nhiễm Plasmodium Plasmodium cắn, ký sinh trùng này sẽ xâm nhập vào máu và sau đó là gan, làm vỡ các tế bào gan và giải phóng các ký sinh trùng non vào máu. Trong máu, các ký sinh trùng non xâm nhập các tế bào hồng cầu non và giống như các tế bào gan, chúng phát triển qua các giai đoạn, phá hủy các tế bào hồng cầu và giải phóng các ký sinh trùng non gây bệnh sốt rét.

Đây là một chứng rối loạn gây thiếu máu ở những người có tế bào hồng cầu bình thường nhưng hồng cầu không đều hoặc bị biến dạng. Mức độ thiếu máu tùy thuộc vào loại ký sinh trùng sốt rét gây ra. Bệnh nặng do Plasmodium falciparum, bệnh vừa do Plasmodium ovale và Plasmodium vivax. Nhẹ và không đáng kể đối với ký sinh trùng sốt rét.

Bệnh do giun, sán

  1. Sâu Anisaki

Bệnh ký sinh trùng Anisakis (thường được gọi là bệnh Anisakis) xảy ra khi ăn cá sống hoặc chưa nấu chín có chứa ấu trùng của giun Anisakis simplex. Vài giờ sau khi ăn phải ấu trùng sẽ xuất hiện các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, nôn.

  1. Giun tròn

Nó sống trong ruột non từ 12-24 tháng. Một lượng lớn có thể gây tắc ruột, tắc ống mật, tắc ống tụy và viêm ruột thừa do giun trưởng thành xâm nhập. Ở trẻ em giun đũa nhiều gây suy dinh dưỡng. 

  1. Sán lá gan

Sán lá gan gồm 2 loài phổ biến là sán lá gan nhỏ (Fasciola hepatica, Fasciola gigantica) và sán lá gan nhỏ thuộc họ Opisthorchiidae. Sán lá gan ký sinh ở gan và trưởng thành trong đường mật, tuy nhiên việc chẩn đoán và điều trị sán lá gan lớn và sán lá gan khác nhau do chủng loại, hình dạng của sán vật chủ trung gian, cơ chế bệnh sinh của sán lá gan và các triệu chứng lâm sàng hoàn toàn khác nhau. . .

Bệnh nhân bị sán lá gan lớn thường đau vùng hố chậu và vùng bụng dưới bên phải. Là bệnh do sán lá nhỏ ký sinh trong gan, khi nhiễm nhiều sán lá gan cũng dần sưng to, kèm theo đau bụng. 

  1. Giun móc

Nó thường được tìm thấy trong phân ngay cả ở những bệnh nhân sau khi dùng thuốc tẩy giun. Giun móc sống nhờ máu và tiết ra một chất chống đông máu, khi miệng giun cắm vào ruột thì vết thương chảy máu. Giun móc gây thiếu máu thiếu sắt.

  1. giun kim

Trứng giun kim (Enterobius vermicularis) lây lan ra ngoài bằng cách gãi hậu môn. Giặt quần, chăn, chiếu. Bệnh lây lan do yếu tố vệ sinh cá nhân nên xảy ra khắp nơi, kể cả xứ nóng và xứ lạnh. Tỷ lệ lây nhiễm cao hơn ở những khu vực có điều kiện vệ sinh kém, mật độ dân số cao và nhà ở đông đúc. Trẻ em dễ bị nhiễm trùng hơn người lớn. Cư dân thành thị và thành thị có nhiều khả năng bị nhiễm bệnh hơn cư dân nông thôn.

Bệnh cũng có tính chất gia đình. Khi trẻ bị nhiễm giun kim tại nhà, gia đình thường bị lây nhiễm do chung sống và chăm sóc bé.

Triệu chứng lâm sàng duy nhất dễ nhận biết là ngứa hậu môn do giun cái đẻ trứng ở mép hậu môn khi ngủ. Ngứa hậu môn thường nặng hơn vào ban đêm so với các thời điểm khác trong ngày. Vì ngứa nên trẻ thường gãi hậu môn, có thể dẫn đến chàm, trầy xước niêm mạc hậu môn, từ đó gây nhiễm trùng.

Rối loạn tiêu hóa do giun kim bao gồm đau bụng, chán ăn, buồn nôn và tiêu chảy. Rối loạn thần kinh cũng phổ biến ở trẻ em bị nhiễm giun kim thường xuyên hoặc nặng.

  1. Lươn

Giun lươn sống trong ruột non. Giun lươn thường không có triệu chứng lâm sàng. Nhiều trường hợp nhiễm giun tròn gây đau vùng thượng vị dễ nhầm với bệnh loét dạ dày tá tràng, tiêu chảy, buồn nôn, sụt cân. Giun lươn cũng có thể gây bệnh nặng và bùng phát toàn thân ở những vùng bị suy giảm miễn dịch.

  1. Sâu tóc

Sâu bướm Trichuris trichiura sống trong ruột già. Nhiễm giun tóc thường không có triệu chứng lâm sàng. Nếu nhiễm trùng nghiêm trọng, chất nhầy có máu sẽ chảy ra. Ở trẻ em, nhiễm giun tóc còn gây tiêu chảy với các triệu chứng sa trực tràng, thiếu máu, hạ protein máu, chậm lớn.

Ngoài loài rận đặc trưng ở người Pediculus humanus capitis, Pediculus humanus corporis và rận Phthirus pubis, con người còn bị tấn công bởi các loài côn trùng ký sinh trên động vật khác như rận khỉ Pediculus mjobergi và bọ chét, chó Ctenocephalides canis và Pulex simulans ngày càng gia tăng.

  1. Rệp

Một số cơ thể có thể có phản ứng dị ứng với vết cắn của rệp hút máu. Ngứa xảy ra 2-3 phút sau khi bị rệp cắn. Các phản ứng có thể nghiêm trọng, nhẹ hoặc ở một số người có thể gây rối loạn thần kinh hoặc đường tiêu hóa. Ở trẻ em, các phản ứng nhạy cảm hơn và đôi khi xuất hiện mệt mỏi.

  1. Chấy (chấy)

Chấy là do biến thái không hoàn toàn của chi Chấy (Head lice) gây ra, chúng thường ký sinh ở người. Pediculus humanus capitis gây ngứa, nhất là vùng đầu và cổ, gây bội nhiễm thứ phát do gãi, chốc lở gây thương tổn trên mày và rỉ dịch vào hạch cổ. Viêm kết mạc bọng nước thậm chí có thể xảy ra.

Loại ký sinh trùng này phổ biến ở các nước lạnh và gây ngứa dữ dội vào buổi tối ở vai, nách, lưng và lưng dưới. Nó không xảy ra trên mặt, tay hoặc chân. Ngứa có thể dẫn đến chốc lở.

  1. Chí

ký sinh trùng sinh dục. Hiếm khi nó lây nhiễm ở nách, ria mép, râu và lông mày. So với chấy, rệp ít lây lan hơn và lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục và ít phổ biến hơn qua khăn trải giường, khăn tắm và các vật dụng vệ sinh khác. Một triệu chứng đặc trưng của bệnh này là ngứa vào ban đêm ở bộ phận sinh dục. Đây là nguồn lây nhiễm sau khi gãi dẫn đến chốc lở, viêm mủ da nổi hạch.

19. Ve

Về mặt sinh thái, ve có thể được chia thành hai nhóm, nhóm ngoài trời và nhóm trong nhà. Các nhóm bên ngoài nhà thích những khu vực thoáng đãng, rừng cây và có thể nhịn ăn trong thời gian dài. Các nhóm trong nhà yêu cầu độ ẩm cao, chịu đói và sống trong hang động vật gặm nhấm, tổ chim, trong nhà, hang dơi, v.v.

 Khi bị cắn, phản ứng của vật chủ gây ngứa tại chỗ chích. Người bị nhiễm ve lớn hút máu có thể gây ra các ảnh hưởng tại chỗ như thiếu máu, phù nề, tăng thân nhiệt và đi khập khiễng. Vết đốt là điểm xâm nhập của mầm bệnh và ấu trùng ruồi có thể xâm nhập và gây tê liệt trong vòng vài giờ, và tử vong đột ngột do liệt cơ hô hấp.

  1. Ghẻ

Một số loài ve có thể gây viêm da tiếp xúc, gây dị ứng đường hô hấp ở người, đặc biệt là do tiếp xúc nhiều lần với thân thịt và dịch tiết. Các loại ngoại ký sinh trùng thường xuyên sống sâu trong lớp sừng của da bao gồm:

 Ghẻ: Một loại ký sinh trùng ở người, trong nhà và hoang dã. Ghẻ là một bệnh toàn cầu, phổ biến ở những người trẻ tuổi sống theo nhóm và lây lan từ người này sang người khác trực tiếp qua quan hệ tình dục hoặc gián tiếp qua quần áo và giường chiếu. Demodex folliculorum: Ký sinh ở nang lông người gây “mụn ngứa”.

CHƯƠNG TRÌNH
BÀI VIẾT KIẾN THỨC

Dự phòng trước phơi nhiễm HIV hiệu quả 99%