Tìm kiếm
Close this search box.
Tìm kiếm
Close this search box.

Tổng quan về bệnh viêm gan B

Tổng quan về bệnh viêm gan B

Viêm gan B là ‘sát thủ thầm lặng’ gây xơ gan, suy gan thậm chí là ung thư gan. Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B chiếm 10-15% dân số. Tuy nhiên, nhiều người nhiễm viêm gan B vẫn chưa hiểu hết sự nguy hiểm của bệnh và biện pháp phòng tránh hiệu quả.

Viêm gan B là bệnh gì?

Viêm gan B là một bệnh nhiễm trùng do virus viêm gan B (HBV) gây ra. Nếu không nhận biết và điều trị kịp thời, bệnh có thể trở thành mãn tính và dẫn đến nhiễm trùng gan và ung thư gan.

Bệnh viêm gan B có những giai đoạn nào?

Viêm gan B có 2 giai đoạn chính là cấp tính và mãn tính. Cụ thể:

Viêm gan B cấp tính

Viêm gan B cấp tính xảy ra trong vòng 6 tháng sau khi nhiễm bệnh, là giai đoạn sớm nhất của nhiễm trùng viêm gan B. Khoảng 90% người nhiễm virus viêm gan B cấp tính tự khỏi, 10% số người nhiễm bệnh tiến triển thành viêm gan B mãn tính gây nguy hiểm cho gan.

Người bị nhiễm viêm gan B cấp tính có trở thành mãn tính hay không tùy thuộc vào độ tuổi của người nhiễm bệnh.

Viêm gan B mãn tính

Viêm gan B mãn tính là khi một người đã bị nhiễm vi-rút viêm gan B trong hơn 6 tháng. Đây là giai đoạn nguy hiểm của bệnh, dẫn đến nhiều biến chứng khó lường. Có hai dạng viêm gan B mãn tính.

  • Mãn tính thể không hoạt động: Giống như người lành mang mầm bệnh viêm gan B, virus viêm gan B không hoạt động. Người bệnh chung sống hòa bình với virus và vẫn sinh hoạt, học tập, làm việc bình thường.
  • Mãn tính thể hoạt động (siêu vi B mãn tính): Khác với virus viêm gan B mãn tính nằm im lìm, virus viêm gan B thể hoạt động có khả năng sinh sôi, nảy nở liên tục gây ra những tổn thương cho gan như xơ gan, suy gan, ung thư gan do virus gây ra.
Tổng quan về bệnh viêm gan B
Tổng quan về bệnh viêm gan B

Biểu hiện nhiễm viêm gan B

Tùy thuộc vào tình trạng của virus viêm gan B, hoạt động hay tiềm ẩn, người nhiễm bệnh có thể có triệu chứng hoặc không có triệu chứng trừ khi được xét nghiệm. Các triệu chứng gồm: phát ban; viêm khớp; mệt; vàng da; phân có màu xanh xám; Nước tiểu đậm; ngứa; chán ăn; buồn nôn; sốt nhẹ; đau bụng; Các mạch máu giống mạng nhện trên da (còn gọi là u mạch máu).

Đối tượng nguy cơ nhiễm viêm gan B

  • Những người bị nhiễm viêm gan B qua đường máu dùng chung bơm kim tiêm với những người bị nhiễm bệnh, thường là những người nghiện ma túy và những người thường xuyên xăm mình, xỏ lỗ tai, làm móng tay và móng chân trong các cơ sở. Không tiệt trùng cẩn thận và sạch sẽ các dụng cụ đặc biệt.
  • Các bác sĩ và nhân viên y tế tiếp xúc với vết thương hở tiếp xúc với máu và vết thương hở bị nhiễm trùng của bệnh nhân viêm gan B không may bị truyền máu từ bệnh nhân viêm gan B.
  • Mẹ bị viêm gan B nếu không được tiêm phòng ngay sau khi sinh, trẻ sinh ra trong gia đình có người nhiễm viêm gan B thì cũng nên mặc chung quần lót hoặc dùng chung bàn chải đánh răng dễ lây nhiễm hơn.
  • Quan hệ tình dục với người không phải vợ/chồng mình bị viêm gan B, quan hệ tình dục không an toàn, không dùng bao cao su…

Bệnh viêm gan B có lây truyền không?

Viêm gan B có lây truyền qua 3 đường, gồm: đường máu, đường tình dục và mẹ sang con.

Đường Máu:

  • Virus HBV có thể tồn tại vài ngày trong máu khô. Vì vậy những hành động sau đây rất dễ lây lan virus từ người này sang người khác.
  • Dùng chung kim tiêm, ống tiêm, bàn chải đánh răng, dao cạo râu, bấm móng tay, móng tay, v.v
  • Để vết thương hở tiếp xúc với máu của người bị nhiễm bệnh.

Đường tình dục:

  • Quan hệ tình dục không an toàn có thể truyền virut viêm gan B từ người này sang người khác. Vi-rút HBV có trong dịch sinh dục và có thể lây truyền qua các vết trầy xước nhỏ khi quan hệ tình dục không an toàn.
  • Vì vậy, khi quan hệ tình dục cần chú ý đảm bảo thực hiện các biện pháp phòng tránh lây nhiễm các bệnh như: B. Sử dụng bao cao su, dụng cụ hỗ trợ không hợp vệ sinh, v.v.

Mẹ sang con:

  • Nếu người mẹ bị nhiễm viêm gan B khi mang thai thì thai nhi có thể bị nhiễm bệnh nếu không có biện pháp phòng ngừa kịp thời. Tỷ lệ lây nhiễm tăng theo từng giai đoạn phát triển của thai nhi.
  • Cụ thể, tỷ lệ lây nhiễm trong ba tháng đầu là 1%. 10% trong 3 tháng. Và nếu mẹ bị viêm gan B khi mang thai ba tháng cuối thì con sinh ra có tỷ lệ lây nhiễm từ 60-70%. Vì vậy, trước khi có ý định mang thai và trong suốt quá trình mang thai, các bà mẹ nhiễm viêm gan B nên đi khám và hỏi rõ tiền sử bệnh của mình. Điều này cho phép các bác sĩ đưa ra lời khuyên hữu ích nhất và thực hiện các bước kịp thời để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Những yếu tố giúp chẩn đoán viêm gan B

  • Yếu tố dịch tễ: tiền sử gia đình mẹ bị nhiễm viêm gan B. Bản thân có quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm với người bị viêm gan B, bị rạch da…
  • Yếu tố lâm sàng: vàng da, chán ăn, mệt mỏi, đau hạ sườn, hoặc không có triệu chứng.
  • Các yếu tố xét nghiệm cận lâm sàng: Các xét nghiệm dưới đây cho phép bác sĩ chẩn đoán xác định bệnh nhân có nhiễm viêm gan B hay không.

Xét nghiệm giúp chẩn đoán:

Xét nghiệm HbsAg: Xét nghiệm kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B. Nếu kết quả xét nghiệm HbsAg dương tính tức là bạn đã nhiễm virus viêm gan B.

Xét nghiệm Anti HBs: Đây là xét nghiệm nhằm kiểm tra mức độ miễn dịch của cơ thể đối với vi rút viêm gan B. Kết quả xét nghiệm Anti HBs dương tính có nghĩa là cơ thể đã có kháng thể với virus. Điều này có thể xảy ra nếu bệnh nhân bị viêm gan B và đã khỏi bệnh, hoặc nếu bệnh nhân đã được tiêm phòng viêm gan B.

Điều trị viêm gan B như thế nào?

Giai đoạn cấp tính

Khoảng 90% những người bị nhiễm viêm gan B cấp tính tự khỏi và không cần dùng thuốc kháng vi-rút. Người bệnh viêm gan B cấp tính có men gan tăng cao cần được nghỉ ngơi, có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý. Ngoài ra, người bệnh có thể dùng thuốc hỗ trợ chức năng gan theo chỉ định của bác sĩ.

Giai đoạn mãn tính

Bệnh nhân bị nhiễm viêm gan B mãn tính nên dùng thuốc kháng vi-rút viêm gan B. Loại thuốc này giúp người bệnh giảm nguy cơ suy gan, xơ gan, ung thư gan. Tuy nhiên, quá trình điều trị đòi hỏi rất nhiều sự kiên nhẫn của bệnh nhân, vì nó có thể kéo dài suốt đời ở bệnh nhân xơ gan.

Người bệnh cần lưu ý uống thuốc đều đặn, đúng liều lượng, đúng thời gian quy định. Nếu không, virus có thể quen với thuốc (kháng thuốc), làm phức tạp quá trình điều trị và gây nguy hiểm cho sức khỏe của bệnh nhân. sức khỏe.

Một cách khác để điều trị viêm gan B mãn tính là tiêm thuốc tăng cường hệ thống miễn dịch và làm bất hoạt virus. Ví dụ, peg-interferon, interferon, thymosin alpha. Tuy nhiên, các loại thuốc này có nhiều tác dụng phụ và hiện chưa có bán tại Việt Nam.

CHƯƠNG TRÌNH
BÀI VIẾT KIẾN THỨC

Dự phòng trước phơi nhiễm HIV miễn phí tại GALANT