Tìm kiếm
Close this search box.
Tìm kiếm
Close this search box.

Sàng lọc ung thư cổ tử cung như thế nào?

1. Ung thư cổ tử cung là gì?

Ung thư cổ tử cung là dạng ung thư khởi phát tại cổ tử cung trên cơ thể – khe hẹp nối âm đạo và tử cung. Cổ trong cổ tử cung bình thường sẽ có màu hồng khỏe mạnh với lớp tế bào vảy mỏng và phẳng. Ống cổ tử cung đc tạo thành từ một dạng tế bào khác gọi là tế bào trụ. Khu vực giao nhau giữa hai dạng tế bào này được gọi là khu chuyển đổi, chính là nơi những tế bào bất thường hay tiền ung thư dễ dàng phát triển nhất.

2. Tầm soát ung thư cổ tử cung

2.1. Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Hầu như tất cả những trường hợp ung thư cổ tử cung đều là do nhiễm virus HPV. HPV là một loại virus xâm nhập vào tế bào và có thể khiến những tế bào bị biến đổi. Một số loại virusHPV có liên quan đến ung thư cổ tử cung cũng như: ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật, hậu môn, miệng và cổ họng. Những chủng HPV có khả năng gây ung thư được gọi là “chủng có nguy cơ cao.”

2.2. Tại sao xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung lại vô cùng quan trọng?

Thường sẽ mất từ 3 đến 7 năm để những thay đổi nguy cơ cao trong những tế bào cổ tử cung biến đổi thành ung thư. Sàng lọc ung thư cổ tử cung có thể phát hiện được các thay đổi này trước khi chúng trở thành ung thư. Nữ giới có các thay đổi nguy cơ thấp có thể được kiểm tra thường xuyên hơn để xem liệu tế bào của người bệnh có trở lại bình thường hay không. Nữ giới có các thay đổi nguy cơ cao có thể được chữa trị để loại bỏ những tế bào.

2.3. Vậy xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung sẽ được thực hiện như thế nào?

Sàng lọc  bao gồm xét nghiệm Pap (ThinPrep Pap hoặc Pap smear, tùy vào chỉ định của bác sĩ), và đối với một số nữ, xét nghiệm HPV. Cả hai xét nghiệm trên đều sử dụng những tế bào được lấy từ cổ tử cung. Quá trình sàng lọc rất đơn giản và nhanh chóng. Bạn sẽ nằm ngửa trên một cái ghế đặc biệt và một thiết bị được gọi là mỏ vịt sử dụng để mở rộng âm đạo. Mỏ vịt giúp các bác sĩ có thể quan sát một cách rõ ràng hơn về cổ tử cung và phần trên âm đạo.

Các bác sĩ sẽ dùng một bàn chải chuyên dụng hay những thiết bị khác để lấy mẫu xét nghiệm. Mẫu tế bào cổ tử cung này sẽ được bảo quản trong một ống chứa dung dịch đặc biệt và đưa đến phòng xét nghiệm.

Với xét nghiệm Pap (ThinPrep Pap hoặc Pap smear), mẫu sẽ được kiểm tra xem có sự hiện diện của các tế bào bất thường nào hay không. Còn với xét nghiệm HPV, mẫu sẽ được kiểm tra xem có sự hiện diện của 13 đến 14 chủng HPV nguy cơ cao hay không.

2.4. Nên tầm soát ung thư cổ tử cung bao nhiêu bao lâu một lần và nên làm xét nghiệm nào?

Thời điểm thực hiện và loại xét nghiệm còn phụ thuộc vào độ tuổi và bệnh sử của bạn.

Những bạn nữ từ có độ tuổi từ 21 đến 29 tuổi nên thực hiện xét nghiệm Pap (ThinPrep Pap hoặc Pap smear) mỗi 3 năm. Xét nghiệm HPV ko được khuyến cáo.

Phụ nữ độ tuổi từ 30 đến 65 tuổi nên thực hiện đồng thời xét nghiệm Pap và HPV mỗi 5 năm (ưu tiên). Hay những bệnh nhân có thể thực hiện mỗi xét nghiệm Pap mỗi 3 năm cũng được.

2.5. Khi nào nên ngừng sàng lọc ung thư cổ tử cung?

Nữ giới nên ngưng sàng lọc ung thư cổ tử cung sau 65 tuổi nếu như ko có tiền sử tế bào cổ tử cung bất thường mức độ trung bình hay là cao hoặc kết quả ác tính và bạn đã có ba kết quả xét nghiệm Pap âm tính liên tiếp hay hai kết quả xét nghiệm đồng âm tính liên tiếp trong vòng 10 năm qua, và kết quả gần đây nhất được tiến hành trong vòng 5 năm qua.

2.6. Phải làm gì nếu có kết quả xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung có kết quả bất thường?

Nhiều bạn nữ có kết quả sàng lọc ung thư cổ tử cung bất thường. Một kết quả bất thường không đồng nghĩa với việc là bạn bị mắc bệnh ung thư. Sự thay đổi tế bào cổ tử cung thường trở lại bình thường. Và nếu chúng không trở lại bình thường, thường phải mất tầm vài năm để các thay đổi nguy cơ cao trở thành ung thư.

Nếu như đã có kết quả xét nghiệm sàng lọc bất thường, xét nghiệm bổ sung cần phải được chỉ định để tìm hiểu xem các biến đổi nguy cơ cao hay ung thư thực sự có mặt hay không. Đôi lúc, chỉ cần bạn lặp lại xét nghiệm là đủ. Đối với một số trường hợp khác, soi cổ tử cung và sinh thiết cổ tử cung cũng có thể được khuyến nghị để tìm hiểu mức độ nghiêm trọng của những biến đổi này.

Nếu như kết quả xét nghiệm theo dõi cho thấy các biến đổi nguy cơ cao, bệnh nhân có thể cần chữa trị để loại bỏ những tế bào bất thường này. Cần thực hiện xét nghiệm theo dõi sau khi chữa trị và sẽ cần được kiểm tra ung thư cổ tử cung thường xuyên sau khi quá trình theo dõi hoàn tất.

CHƯƠNG TRÌNH
BÀI VIẾT KIẾN THỨC

Dự phòng trước phơi nhiễm HIV hiệu quả 99%