Tìm kiếm
Close this search box.
Tìm kiếm
Close this search box.

Nguyên nhân, triệu chứng, phòng ngừa và điều trị giun đũa

Bệnh giun đũa chủ yếu xảy ra ở trẻ em dưới 10 tuổi, đặc biệt ở những nơi có khí hậu nóng ẩm, điều kiện vệ sinh kém, sử dụng phân tươi để bón cho cây trồng. Người bệnh bị suy dinh dưỡng nhẹ, đau bụng, buồn nôn, tắc ruột… Giun đũa là gì, nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách phòng tránh giun đũa sao cho an toàn nhất?

Bệnh giun đũa là gì?

Bệnh giun đũa là bệnh truyền nhiễm, ký sinh trên cơ thể người từ giai đoạn ấu trùng đến giai đoạn trưởng thành. Con trưởng thành dài tới hơn 30 cm. Bệnh giun đũa thường gặp ở trẻ em sống ở vùng nhiệt đới, khí hậu ẩm ướt, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh. Mặc dù căn bệnh này phổ biến khắp thế giới, nhưng những người mắc bệnh nhẹ thường không có triệu chứng và những người mắc bệnh nặng có thể có triệu chứng. Các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra.

Triệu chứng bệnh giun đũa

Những người bị nhiễm trùng nhẹ thường không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ, mơ hồ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhiễm trùng nghiêm trọng và có thể rất nguy hiểm vì ký sinh trùng giun tròn tấn công phổi và ruột.

Phổi: Trứng nuốt vào ruột non giải phóng ấu trùng. Ấu trùng di chuyển đến phổi qua đường máu hoặc hệ thống bạch huyết. Do đó, bệnh nhân có thể gặp các dấu hiệu và triệu chứng tương tự như hen suyễn hoặc viêm phổi. Ví dụ như ho dai dẳng, khó thở, thở gấp, thở khò khè, mệt mỏi, sụt cân, đau bụng, đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, phân có máu, giun, tắc ruột, suy dinh dưỡng.

Giun đũa có những giai đoạn phát triển nào?

Giai đoạn xâm lấn: Ăn phải rau sống, trái cây mọc trong đất có chứa mầm bệnh, hoặc tay dính phải trứng giun khi chơi dưới đất, làm vườn, khi ăn uống không rửa xà phòng… Do vô tình nuốt phải trứng giun vào bụng. .

Giai đoạn di động: Sau khi nuốt phải trứng, chúng nở thành ấu trùng trong ruột non. Thông qua hệ thống máu và bạch huyết, ấu trùng di chuyển qua thành ruột đến tim và phổi. Sau 10-14 ngày phát triển thành phổi, ấu trùng chui qua đường hô hấp và tiếp tục tấn công vào hầu họng. Lúc này người bệnh khó chịu nên tiếp tục ho và nuốt trứng trở lại ruột Giai đoạn trưởng thành: Ấu trùng quay trở lại ruột và phát triển thành giun đũa đực hoặc cái. Giun cái dài tới hơn 40 cm và giun đực nhỏ hơn. Giai đoạn sinh sản: Mỗi ngày giun cái có thể đẻ 200.000 trứng. Trứng được giun đực và giun cái thụ tinh rồi bài tiết ra môi trường bên ngoài cùng với phân. Toàn bộ quá trình từ lúc con người nuốt một quả trứng đến khi trưởng thành mất từ ​​hai đến ba tháng. Giun tròn có thể sống trong người từ một đến hai năm.

Nguyên nhân gây bệnh giun đũa

Bệnh nhân mắc giun đũa là do ăn phải trứng giun đũa trên thức ăn, nước uống, đặc biệt là rau sống đã được bón phân tươi nhưng không được rửa dưới vòi nước chảy.

Ngoài ra, nhiều người, đặc biệt là trẻ em, mắc trứng giun đũa và cho tay vào miệng khi chơi dưới đất hoặc ngoài đồng. Trứng giun đũa có thể tồn tại trong đất vài năm và giun đũa cái có thể đẻ tới 200.000 trứng mỗi ngày.

Các loại bệnh lây truyền của giun đũa

Ăn uống: Con người vô tình ăn phải trứng giun đũa từ thức ăn chưa rửa sạch, đặc biệt là rau sống đã bị bón phân người. Uống phải nước bẩn: Trứng dễ dạt vào ao, hồ vùng có dịch bệnh. Tay vào miệng: Trẻ chơi với đất nhiễm mầm bệnh lấy tay che miệng.

Giun đũa có lây không

nó không thể! Hắc lào không lây trực tiếp từ người này sang người khác. Ước tính có khoảng 807 đến 1,2 tỷ người trên thế giới bị nhiễm giun đũa (đôi khi được gọi là giun đũa hoặc giun đũa). Các cá nhân bị nhiễm giun đũa do tiếp xúc với đất bị nhiễm phân người hoặc động vật có chứa trứng giun đũa, hoặc do tiếp xúc với nguồn nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm.

Chẩn đoán giun đũa như thế nào?

Chẩn đoán lâm sàng: Các triệu chứng đường tiêu hóa do giun đũa có thể xảy ra không chỉ ở bệnh giun đũa như triệu chứng phổi và biểu hiện lâm sàng của biến chứng thai ngoài tử cung mà còn ở các bệnh khác. Do đó, chẩn đoán bệnh giun đũa bằng khám thực thể thường không dứt khoát. 

 Xét nghiệm chẩn đoán: Các xét nghiệm có thể xác định người bị nhiễm giun đũa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chẩn đoán và điều trị. Bệnh nhân được kiểm tra trứng giun đũa trong phân bằng cách phết phân lên lam kính hiển vi để quan sát dưới kính hiển vi. Mật độ trứng dày hơn có thể đạt được bằng cách sử dụng các kỹ thuật làm giàu, giúp giảm số lượng giun đẻ ít trứng. Giun cái có vỡ lap nên để có kết luận chính xác nên test lại sau 2-3 ngày và test 3 ngày liên tiếp có thể bạn cần. Hiếm khi không tìm thấy trứng trong phân vì người đó bị nhiễm giun tròn đực. Nếu một người mới bị nhiễm giun đũa giai đoạn ấu trùng hoặc đã được tẩy giun trước đó, xét nghiệm phân không tìm thấy trứng giun. Ngoài ra, bệnh nhân có thể chụp X-quang bụng với thuốc cản quang đường uống. Tuyến trùng hấp thụ chất tương phản, tạo ra hình ảnh của tuyến trùng trên phim.

Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ xét nghiệm, người ta có thể xác định nhiễm giun đũa bằng xét nghiệm miễn dịch sử dụng kháng thể IgM và IgG.

Hướng dẫn điều trị giun đũa

Hiện nay, thuốc tẩy giun đũa rất hiệu quả và tiện lợi cho người bệnh, không cần nhịn ăn, không phụ thuộc thời gian và thường là liều đơn, thuốc nhỏ… Mebendazole 100 mg x 2/3 ngày hoặc 500 mg liều duy nhất. Albendazole 400 mg mỗi ngày một lần với liều duy nhất

Pamoate Pirentel.

Biện pháp phòng ngừa giun đũa

Để phòng và trị giun đũa có hiệu quả phải kết hợp nhiều biện pháp nhằm làm gián đoạn chu kỳ phát triển của giun đũa. Sát trùng, rửa tay trước và sau khi ăn. Uống nước sôi và rửa rau quả dưới vòi nước sạch. Dạy trẻ nhỏ không cho tay vào miệng và rửa tay khi chơi. Giáo dục mọi người không phóng uế bừa bãi. Không dùng phân tươi bón rau, bón cây

Đừng thả vật nuôi của bạn. Tăng cường xây dựng nhà vệ sinh nông thôn và nhà vệ sinh công cộng đô thị. Trung tâm xét nghiệm của Bệnh viện Đa khoa Thẩm Anh TP.HCM đạt tiêu chuẩn ISO 15189:2012 và được đầu tư máy móc mới nhất theo công nghệ tiên tiến của Châu Âu và Mỹ. Nhờ đó, các trung tâm xét nghiệm trả kết quả nhanh chóng, đảm bảo độ chính xác, giúp bác sĩ chẩn đoán kịp thời và điều trị hiệu quả.

CHƯƠNG TRÌNH
BÀI VIẾT KIẾN THỨC

Dự phòng trước phơi nhiễm HIV hiệu quả 99%