Tìm kiếm
Close this search box.
Tìm kiếm
Close this search box.

Điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn 2

Sau khi chẩn đoán ung thư cổ tử cung, các bác sĩ sẽ xác định xem các tế bào ung thư đã lan rộng chưa và nếu có thì chúng đã lan đến đâu. Bệnh được chia thành các giai đoạn ung thư để mô tả các tế bào ung thư đã lan rộng bao xa trong cơ thể, mức độ nghiêm trọng của bệnh và cách điều trị. Giai đoạn ung thư là một trong những yếu tố quan trọng giúp bác sĩ xác định phương pháp điều trị và mức độ thành công của điều trị.

Tầm nguy hiểm của ung thư cổ tử cung giai đoạn 2

Ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 là khi các tế bào ung thư đã lan ra khỏi cổ tử cung và xâm lấn các mô xung quanh. Giai đoạn này cho biết mức độ bệnh và khả năng lây lan của tế bào ung thư.

Mức độ nghiêm trọng của giai đoạn ung thư có thể được xác định bởi tỷ lệ sống sót. Tỷ lệ sống sót là tỷ lệ phần trăm những người mắc cùng một loại ung thư và giai đoạn ung thư trong một khoảng thời gian xác định (thường là 5 năm) kể từ khi được chẩn đoán.

Tỷ lệ sống sót không dự đoán bệnh nhân sẽ sống được bao lâu, nhưng nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khả năng điều trị thành công. Khoảng 20 đến 40% bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 sẽ tái phát sau quá trình điều trị, bao gồm hóa trị và xạ trị.

Ung thư giai đoạn 2 phát triển như thế nào?

Ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 được xác định bởi thực tế là các tế bào ung thư đã lan đến phần trên của âm đạo hoặc các mô xung quanh tử cung. Giai đoạn 2 được chia thành giai đoạn IIA và IIB, tùy thuộc vào mức độ lan rộng của tế bào ung thư.

Ung thư cổ tử cung thời kỳ 2A

Ở giai đoạn IIA, các tế bào ung thư đã lan từ cổ tử cung đến 1/3 trên cùng của âm đạo nhưng chưa lan đến mô xung quanh tử cung (mô tử cung). Các tế bào ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các mô ở xa hơn.

Giai đoạn IIA được chia thành giai đoạn IIA1 và IIA2, tùy thuộc vào kích thước của khối u.

  • Ung thư cổ tử cung giai đoạn IIA1: Kích thước khối u nhỏ hơn 4 cm.
  • Ung thư cổ tử cung giai đoạn IIA2: Ở giai đoạn IIA2, khối u có kích thước từ 4 cm trở lên.

Ung thư cổ tử cung thời kỳ 2B

Ở giai đoạn IIB, ung thư đã lan ra ngoài cổ tử cung và tử cung đến các mô xung quanh tử cung. Các tế bào ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các khu vực xa hơn.

Cách nhận biết ung thư cổ tử cung giai đoạn 2

Ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 thường được phát hiện bằng xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (PAP) hoặc khám phụ khoa. Các triệu chứng của ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 có thể bao gồm:

  • Chảy máu âm đạo
  • Tiết dịch bất thường
  • Rối loạn kinh nguyệt
  • Giảm cân
  • Mệt mỏi trong một thời gian dài

Bị đau khi quan hệ tình dục; đau ở lưng dưới, xương chậu hoặc bụng dưới.

Các triệu chứng ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 rất phổ biến và có thể do nhiều tình trạng khác nhau gây ra, bao gồm u xơ và lạc nội mạc tử cung. Tuy nhiên, nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào trong số này và cảm thấy không khỏe, hãy đến gặp bác sĩ ngay lập tức.

Mặc dù những triệu chứng này không nhất thiết có nghĩa là ung thư cổ tử cung, nhưng điều quan trọng là phải đi khám bác sĩ. Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung giúp tăng hiệu quả điều trị và khả năng duy trì chức năng sinh sản.

Ung thư cổ tử cung thời kỳ 2 có chữa được không?

Được. Bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn IB, IIA và IIB có tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 77%.

Phương án điều trị ung thư cổ tử cung thời kỳ 2

Các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị dựa trên giai đoạn phát triển ung thư, sức khỏe chung của mỗi người và vị trí của các tế bào ung thư. Nếu các tế bào ung thư đã lan ra bên ngoài ung thư cổ tử cung, các phương pháp điều trị chính có thể bao gồm hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn 2, giai đoạn 3 và giai đoạn 4A có thể bao gồm:

Phẩu thuật

Nếu phát hiện ung thư cổ tử cung giai đoạn IIA, bệnh nhân có thể tiến hành phẫu thuật. Phẫu thuật để loại bỏ các hạch bạch huyết vùng chậu được theo sau bởi xạ trị hoặc đôi khi là hóa trị.

Một phương pháp khác là sử dụng phương pháp hóa trị để phẫu thuật nhằm giảm kích thước của khối u. Bác sĩ phẫu thuật thường loại bỏ hoàn toàn tử cung hoặc cổ tử cung. Cắt bỏ cổ tử cung và các hạch bạch huyết xung quanh tử cung vì có nguy cơ tế bào ung thư lây lan từ cổ tử cung.

Đối với phụ nữ mang thai, điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn 2, 3 và 4 bao gồm:

  • Hóa trị để thu nhỏ khối u trong tam cá nguyệt thứ nhất hoặc thứ hai của thai kỳ.
  • Phẫu thuật hoặc xạ trị có thể được đưa ra sau khi sinh.
  • Kết hợp hóa trị và xạ trị.

Nói chuyện với bác sĩ của bạn về ảnh hưởng của bức xạ đối với thai nhi của bạn.

Nếu cần thiết, nên chấm dứt thai kỳ trước khi bắt đầu điều trị. Ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 có thể được điều trị hiệu quả bằng sự kết hợp giữa hóa trị và xạ trị.

Tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên tới 77%. Vì vậy, nếu xuất hiện các triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung, hãy đến ngay bác sĩ để được điều trị kịp thời.

Hoá xạ trị kết hợp

Hóa trị và xạ trị cùng nhau. Trong quá trình xạ trị, bệnh nhân được hóa trị mỗi tuần một lần hoặc 2-3 lần, tùy thuộc vào loại thuốc hóa trị. Vì hóa trị (với thuốc chống ung thư) có thể tiêu diệt tế bào ung thư, nên xạ trị hiệu quả hơn trong việc tiêu diệt tế bào ung thư.

Do đó, các chiến lược kết hợp hóa trị và xạ trị có thể giúp nâng cao hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng hóa trị và xạ trị cùng nhau giúp cải thiện tỷ lệ thuyên giảm, kéo dài thời gian sống sót và giảm nguy cơ tái phát ung thư.

Trước những năm 1990, phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 là xạ trị bên ngoài và bên trong, nhưng trong những năm qua không có tiến bộ lớn nào về hiệu quả điều trị. Khoảng 60% bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 sống sót sau 5 năm xạ trị.

Tuy nhiên, việc bổ sung hóa trị gần đây vào xạ trị đã cải thiện tỷ lệ này.

Ví dụ, một số loại thuốc trị ung thư, chẳng hạn như platinol và 5-fluorouracil, có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư, giúp cho xạ trị hiệu quả hơn trong việc tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị cũng có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư độc lập với xạ trị.

Trong một nghiên cứu lâm sàng ở Hoa Kỳ, 403 phụ nữ bị ung thư cổ tử cung đã được điều trị bằng xạ trị hoặc xạ trị và hóa trị. Bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn IB, IIA và IIB có tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 77% khi hóa trị cộng với xạ trị so với 50% khi chỉ xạ trị.

Sự kết hợp giữa hóa trị và xạ trị có một số ít tác dụng phụ về đường tiêu hóa và huyết học nhưng có thể đảo ngược.

Tuy nhiên, 20-40% bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn 2 sẽ tái phát sau quá trình điều trị, kể cả hóa trị và xạ trị. Điều này là do một lượng nhỏ tế bào ung thư có thể đã lan ra ngoài cổ tử cung mà không được phát hiện bằng các xét nghiệm hiện có. Những tế bào di căn này tồn tại sau hóa trị và gây tái phát ung thư cổ tử cung.

Xạ trị

Xạ trị là phương pháp điều trị sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị được thực hiện bằng cách sử dụng một máy xạ trị bắn một chùm tia X vào cơ thể (chùm tia bên ngoài) hoặc bằng cách đặt một viên nang nhỏ chứa chất phóng xạ rất gần với cổ tử cung (chùm tia bên trong).

Xạ trị bên trong có thể làm giảm tổn thương bức xạ đối với các mô và bộ phận cơ thể khác xung quanh tử cung trong khi chiếu liều cao vào ung thư.

Việc đưa chất phóng xạ vào cơ thể bệnh nhân được thực hiện thông qua các can thiệp trong phòng mổ. Một thiết bị nhỏ được đưa vào cổ tử cung và âm đạo và được “nạp” chất phóng xạ.

Hầu hết các bệnh nhân đều được điều trị bằng hai phương pháp xạ trị này. Xạ trị thường được thực hiện năm ngày một tuần trong khoảng năm tuần.

>> Xem thêm:NHỮNG YẾU TỐ LÀM TĂNG NGUY CƠ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

>> Xem thêm:LÀM SAO ĐỂ NGĂN NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG Ở PHỤ NỮ

CHƯƠNG TRÌNH
BÀI VIẾT KIẾN THỨC

Dự phòng trước phơi nhiễm HIV hiệu quả 99%